Thứ Sáu, ngày 31/10/2014
TRANG CHỦ
PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
HỎI ĐÁP
VĂN BẢN PHÁP QUY
ĐĂNG NHẬP
ENGLISH
NỘI DUNG CHÍNH
Tin tức - Sự kiện>
Giới thiệu>
Cơ cấu tổ chức>
HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
PCD - chỉ đạo tuyến
PC HIV/AIDS>
Chương trình MTQG>
Vi rút
Vi khuẩn
Y học Lao động - BNN
An toàn VSLĐ
Y tế học đường
Vệ sinh sinh thái
An toàn sinh học
Quản lý CL phòng XN
NCKH - HỢP TÁC QUỐC TẾ
Dịch tễ học
Vệ sinh
Vi sinh, miễn dịch
Thư viện>
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
Trung cấp KTXN
Đào tạo, đào tạo lại
Hội nghị - Tập huấn
TÌM KIẾM
     
LIÊN KẾT


  Sitemap 

  Email
:: Thư viện >> Bản tin HIV/AIDS
Cập nhật: 24/06/2011
Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống HIV/AIDS/STI của ngư dân tại một số tỉnh miền Trung năm 2008 (p2)
 

KHẢO SÁT KIẾN THỨC THÁI ĐỘ HÀNH VI PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS/STI CỦA NGƯ DÂN TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN TRUNG NĂM 2008 (P2)

5.3. Tình trạng hôn nhân và quan hệ tình dục

Tình trạng hôn nhân và tuổi QHTD của ngư dân

Đại đa số ngư dân tham gia nghiên cứu đều đã lập gia đình (90,2%), do đó tỷ lệ đã từng quan hệ tình dục cũng tương đối cao. Tuổi có quan hệ tình dục lần đầu của cả nam và nữ đều rất sớm (nam 17 tuổi, nữ 15 tuổi). Tuổi trung bình quan hệ tình dục lần đầu với nam là 22,6 tuổi và nữ là 20,6 tuổi.

Tỷ lệ ngư dân sử dụng BCS khi QHTD với vợ/chồng/người yêu trong lần gần đây nhất:            

Có 71,1% ngư dân không dùng BCS khi QHTD với vợ/chồng/người yêu. Lý do không thích dùng BCS chiếm tỷ lệ cao hơn cả (34,9%), tiếp đến là đã dùng thuốc tránh thai (21,6%), cho là không cần thiết (19,8%), không nghĩ đến điều đó (13,7%). Một số ngư dân cho rằng cho rằng khi QHTD với vợ/chồng/người yêu là vì tình yêu, nếu dùng BCS thì cảm thấy xa cách (7,6%). Hành vi sử dụng BCS chủ yếu là do cả hai bên cùng nhau quyết định (67,6%), tự bản thân chủ động dùng là 25,2%, do bạn tình gợi ý là 7,2%.

Tần suất sử dụng BCS khi QHTD với vợ/chồng/người yêu trong 12 tháng qua:

Tỷ lệ ngư dân luôn luôn dùng BCS khi QHTD với vợ, chồng/bạn tình trong 12 tháng qua chiếm 13,3%, trong khi đó tỷ lệ ngư dân không bao giờ dùng BCS khi QHTD với vợ, chồng/bạn tình chiếm tới 52%.

 Tần suất sử dụng BCS với bạn tình bất chợt trong 12 tháng qua :

Tỷ lệ dùng BCS khi QHTD với bạn tình bất chợt: Luôn luôn dùng là 16,7%, hầu hết các lần: 33,3%, một nửa số lần: 8,3% và đôi khi là 16,7%. Đặc biệt, có tới 25% ngư dân không bao giờ sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình bất chợt.

Sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình bất chợt trong lần gần đây nhất:

Tỷ lệ sử dụng BCS và không sử dụng BCS của ngư dân khi QHTD với bạn tình bất chợt trong lần gần đây nhất là như nhau, đều chiếm 50%. Các ngư dân sử dụng BCS khi QHTD là do bạn tình gợi ý (50%) và cùng nhau quyết định (50%), không có hành vi sử dụng BCS do tự bản thân đề nghị. Các lý do mà ngư dân không sử dụng BCS đó là: không có BCS (50%), không thích dùng (33,3%) và bị bạn tình phản đối là (16,7%).

Sử dụng BCS của nam ngư dân trong lần QHTD gần đây nhất với PNMD:

Phỏng vấn trên 208 nam ngư dân cho biết có 51 nam ngư dân đã từng QHTD với PNMD. Trong đó có 47 ngư dân (92,2%) có sử dụng BCS khi QHTD và 4 ngư dân (7,8%) không sử dụng BCS. Chỉ có 21,3% PNMD gợi ý sử dụng BCS khi QHTD với nam ngư dân. Lý do mà nam ngư dân không sử dụng BCS khi QHTD với PNMD chủ yếu là không thích dùng hoặc cho là không cần thiết sử dụng BCS.

Tần suất sử dụng BCS của nam ngư dân khi QHTD với PNMD trong 12 tháng qua:

Trong số 51 nam ngư dân đã từng QHTD với PNMD, có 31 trường hợp luôn luôn sử dụng BCS khi QHTD (chiếm 60,8%), 20 nam ngư dân không sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với PNMD (39,2).

 

Qua biểu đồ trên cho thấy: tỷ lệ nam ngư dân sử dụng BCS khi QHTD với PNMD trong lần gần đây nhất chiếm tỷ lệ khá cao (92,2%). Tuy nhiên, tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với PNMD trong 12 tháng qua còn thấp (60,8%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tỷ lệ nam ngư dân sử dụng BCS khi QHTD với PNMD lần gần đây nhất tăng đáng kể có thể do trong vòng 1 năm qua họ được tuyên truyền nhiều hơn hoặc các can thiệp mạnh mẽ hơn của chương trình phòng chống HIV/AIDS.

5.4. Hành vi sử dụng ma túy:

Sử dụng ma tuý bằng đường tiêm chích là một trong những nguy cơ lây truyền HIV cao nhất. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra cho biết chỉ có 4/417 ngư dân đã từng sử dụng ma tuý và loại ma túy họ sử dụng là thuốc phiện. Tất cả các trường hợp này đều là nam ngư dân và sử dụng bằng đường hút.

5.5. Kiến thức về HIV/AIDS:

Tỷ lệ ngư dân nghe nói về HIV/AIDS:   

 Tỉ lệ ngư dân có nghe nói về HIV/AIDS tương đối cao (89,7%), ngư dân chưa bao giờ nghe nói về HIV/AIDS chiếm 10,3%. Trong đó, tỷ lệ nam ngư dân đã nghe nói về HIV là 92,8% cao hơn so với vợ ngư dân là 86,6%.

Tỷ lệ ngư dân có kiến thức đúng về các cách phòng tránh và phản đối các quan niệm sai lầm về HIV/AIDS

          Nhìn chung, tỉ lệ ngư dân có kiến thức đúng về phòng tránh lây truyền HIV khá cao: 94,1 % cho rằng không dùng chung hoặc dùng lại BKT có thể phòng tránh HIV, 83,7% cho rằng có một bạn tình chung thủy và không bị nhiễm HIV có thể phòng tránh được HIV. Đáng lưu ý là có đến 12% ngư dân cho biết sử dụng BCS trong QHTD không thể phòng lây nhiễm HIV.

 

Tỉ lệ ngư dân có kiến thức đầy đủ về HIV/AIDS là 34,8%, Trong đó tỷ lệ có kiến thức đầy đủ của vợ ngư dân (44,5%) cao hơn so với nam nam ngư dân (27,5%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0.02 

 

 

 

 Kiến thức về đường lây truyền HIV từ mẹ sang con trong giai đoạn mang thai được ngư dân biết đến nhiều nhất (75,9%). Tỷ lệ ngư dân cho biết HIV lây truyền từ mẹ sang con trong giai đoạn cho con bú chiếm 39% và 49,2% cho rằng HIV lây truyền từ mẹ sang con trong lúc sinh. Tỉ lệ ngư dân có kiến thức về cả 3 đường lây chiếm tỉ lệ tương đối thấp (28,1%).

Kiến thức về phòng tránh lây truyền HIV từ mẹ sang con bằng cách sử dụng thuốc kháng vi rút trong quá trình mang thai:

Tỉ lệ số người trả lời cho rằng lây truyền từ mẹ sang con có thể phòng tránh bằng việc sử dụng thuốc điều trị kháng vi rút HIV là 28,8%. Tuy nhiên, tỷ lệ ngư dân không biết việc sử dụng thuốc điều trị kháng vi rút HIV làm giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con còn rất cao (50,5%).

5.6. Thái độ tích cực và phân biệt đối xử đối với người có HIV

Thái độ tích cực đối với người có HIV:

Thái độ tích cực đối với người có HIV, tỉ lệ người đồng ý đến ăn hoặc mua thức ăn của người bán hàng đang sống chung với HIV/AIDS là 24,3%, tỉ lệ số người được hỏi có thái độ chấp nhận và sãn sàng chăm sóc cho thành viên trong gia đình nhiễm HIV là 81%, số người chấp nhận đối với giáo viên có HIV dương tính và cho phép được tiếp tục giảng dạy chiếm 58%, tỉ lệ người cho rằng không cần giữ kín tình trạng nhiễm HIV của thành viên trong gia đình là 19,3%.

Nhìn chung, tỷ lệ ngư dân có thái độ tích cực với người nhiễm HIV còn thấp (13,4%). Trong đó, thái độ tích cực đối với người nhiễm HIV của nam ngư dân là 5,6% và vợ ngư dân là 7,7%.

Kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, tỉ lệ số người đồng ý rằng người bị nhiễm HIV phải xấu hổ với bản thân là 58,4%, tỉ lệ người đồng ý rằng người nhiễm HIV có lỗi trong việc mang bệnh tật cho cộng đồng là 59,7%.

5.7. Tư vấn và xét nghiệm HIV:

Nhóm ngư dân là nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao. Tuy nhiên, tỉ lệ ngư dân đã từng làm xét nghiệm HIV tương đối thấp, theo kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ này chỉ chiếm 2% (6 trường hợp) trong tổng số người đã từng nghe nói về HIV/AIDS. Trong đó có 50 % xét nghiệm trong 12 tháng gần đây.

5.8. Các triệu chứng và cách xử trí khi mắc các NKLTQĐTD:

Tỷ lệ ngư dân nghe nói về các NKLTQĐTD:

Khi được hỏi về các NKLTQĐTD, số ngư dân có nghe nói về các NKLTQĐTD là 286 (chiếm 68,6%) số người được phỏng vấn.  Về triệu chứng bất thường liên quan đến bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua, tỉ lệ ngư dân có triệu chứng tiết dịch ở bộ phận sinh dục là 7%; tỷ lệ ngư dân bị loét, sùi hoặc viêm bộ phận sinh dục chiếm 6,7 %. Số người có triệu chứng STI có tìm kiếm lời khuyên và các biện pháp điều trị là 34 chiếm 87,2% tổng số. Trong đó, số người đến các CSYT nhà nước chiếm tỉ lệ cao nhất (97,1%); một số khác lựa chọn đến các CSYT tư nhân. Ngoài ra, tỉ lệ người dùng BCS trong QHTD khi có triệu chứng là 11,8%, tỉ lệ người dừng QHTD khi có triệu chứng là 8,8%. 

5.9. Tiếp cận và nhận được các hỗ trợ về phòng chống HIV/AIDS/STI

Tỷ lệ ngư dân nhận được thông tin tuyên truyền về PC HIV/AIDS

Nhìn chung, tỉ lệ ngư dân nhận được thông tin tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS tương đối cao. Trong đó, tỷ lệ ngư dân nhận được các thông tin về  HIV/AIDS trong 12 tháng qua chiếm tỷ lệ cao (92%). Đáng lưu ý, tỷ lệ ngư dân đã từng nhận được thông tin về giáo dục giới tính chỉ có 36,4%. 

Tỷ lệ ngư dân nhận được các hỗ trợ về phòng chống HIV/AIDS trong 12 tháng qua:

Số người được phỏng vấn trả lời đã nhận được hỗ trợ từ chương trình phòng chống HIV/AIDS là chưa cao, tỉ lệ ngư dân cho biết bản thân không nhận bất kỳ hỗ trợ nào về phòng chống HIV/AIDS chiếm tỷ lệ cao (35,8%). Theo kết quả nghiên cứu, tỉ lệ người từng nhận được BCS là 22,5%; tỉ lệ người được khám và điều trị các NKLTQĐTD là 17,9%.

Tỷ lệ ngư dân biết nơi có thể mua hoặc nhận BCS miễn phí:

Kết quả nghiên cứu cho thấy 14% ngư dân không biết nơi để có thể mua hoặc nhận miễn phí BCS. Điều này cho thấy độ bao phủ của chương trình khuyến khích sử dụng 100% BCS chưa chưa thật rộng khắp trong cộng đồng, đặc biệt ngư dân là nhóm dân cư di biến động. Theo khảo sát, nguồn cung cấp BCS được ngư dân biết đến nhiều nhất là hiệu thuốc (78,6%), tiếp theo đó là các trung tâm y tế (65,2%), phòng KHHGĐ (48,8%). Chỉ có 1,6% ngư dân biết BCS có thể nhận được từ các CTV/GDVĐĐ.

6. KẾT LUẬN:

6.1. Các đặc điểm chung của ngư dân:

- Tổng số ngư dân trong nghiên cứu là 417 người, trong đó có 208 là nam ngư dân và 209 là vợ của ngư dân. Độ tuổi chủ yếu của ngư dân từ 25-45 (79,7%). Trình độ học vấn của ngư dân còn thấp (gần 3% ngư dân không đi học).

- Gần 50% ngư dân cho biết họ hoàn toàn không đọc báo hay tạp chí, 31,7 % ngư dân hoàn toàn không nghe đài. Ti vi là phương tiện thông tin đại chúng được ngư dân tiếp cận nhiều nhất (63,1%). Tỷ lệ ngư dân tiếp cận với cả 3 phương tiện truyền thông nói trên ít nhất 1lần/tuần chưa cao (45,3%)

6.2. Tình trạng hôn nhân và hành vi quan hệ tình dục:

- Tuổi có quan hệ tình dục lần đầu của cả nam và nữ đều rất sớm (nam 17 tuổi, nữ 15 tuổi). Tuổi trung bình QHTD lần đầu với nam là 22,6 tuổi và với nữ là 20,6 tuổi.

- 16,7% ngư dân luôn luôn dùng BCS khi QHTD trong 12 tháng qua và 50% ngư dân sử dụng BCS khi QHTD trong lần gần đây nhất với bạn tình bất chợt. Đáng lưu ý là 25% ngư dân không bao giờ dùng BCS khi QHTD với bạn tình bất chợt.

- Tỷ lệ nam ngư dân sử dụng BCS khi QHTD với PNMD trong lần gần đây nhất chiếm tỷ lệ 92,2%. Tuy nhiên, tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với PNMD trong 12 tháng qua còn thấp (60,8%)

6.3. Hành vi sử dụng ma tuý:

Có 4/417 ngư dân đã từng sử dụng ma tuý, tất cả các trường hợp này đều là nam giới và sử dụng qua đường hút.

 

 

6.4. Kiến thức về HIV/AIDS:

- Tỉ lệ ngư dân có nghe nói về HIV/AIDS tương đối cao (89,7%), trong đó, tỷ lệ nam giới đã nghe nói về HIV là 92,8% cao hơn so với nữ giới là 86,6%.

- Tỉ lệ ngư dân có kiến thức đầy đủ về HIV/AIDS là 34,8%, trong đó tỷ lệ có kiến thức đầy đủ của nữ giới (44,5%) cao hơn so với nam giới (27,5%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0.02   

- Tỉ lệ ngư dân có kiến thức hiểu biết về cả ba đường lây truyền HIV từ mẹ sang con (lúc mang thai, lúc sinh và lúc cho con bú) chiếm tỉ lệ thấp (28,1%) và chỉ có 28,8% ngư dân biết được có thể phòng tránh HIV từ mẹ sang con bằng việc sử dụng thuốc điều trị kháng vi rút HIV cho mẹ trong thời kỳ mang thai.

6.5. Thái độ phân biệt đối xử với người có HIV:

- Tỷ lệ ngư dân có thái độ tích cực với người nhiễm HIV còn thấp (13,4%). Trong đó, thái độ tích cực đối với người nhiễm HIV của nam là 5,6% và nữ là 7,7%

- Phân biệt đối xử đối với người có HIV nhìn chung vẫn còn nặng nề: tỉ lệ người đồng ý rằng người bị nhiễm HIV phải xấu hổ với bản thân là 58,4%, tỉ lệ người cho rằng người bị nhiễm HIV có lỗi trong việc mang bệnh tật cho cộng đồng là 59,7%.

6.6. Một số vấn đề liên quan khác:

- Tỉ lệ ngư dân đã từng làm xét nghiệm HIV thấp (2%)

- Tỉ lệ ngư dân biết được nơi đến làm xét nghiệm HIV là 52%. Đáng lưu ý là chỉ có 46,1% ngư dân biết được trung tâm TVXNTN là nơi tư vấn và xét nghiệm HIV.

- Tỷ lệ ngư dân đã được nghe nói về các NKLTQĐTD là 68,6%, trong đó, tỷ lệ ngư dân cho biết đã từng mắc NKLTQĐTD là 3,8%.

-  Có 87,2% ngư dân trong số những người đã từng mắc STI cho biết đã tiếp cận với các dịch vụ tư vấn và điều trị STI. 

- Tivi và đài là hai kênh thông tin mà ngư dân được tiếp cận nhiều nhất: từ tivi là 87,7% và từ đài là 54,3%.

- Tỷ lệ ngư dân cho biết không nhận được bất kì hỗ trợ nào về phòng, chống HIV/AIDS còn cao (35.8%)

- Có 14% ngư dân không biết được nơi nào có thể đến mua hoặc nhận miễn phí BCS.

7. KHUYẾN NGHỊ:

Khuyến nghị 1:

- Tăng cường công tác thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi về HIV/AIDS/STI cho ngư dân để tăng tỷ lệ ngư dân có kiến thức đầy đủ về HIV/AIDS/STI và từng bước giảm phân biệt đối xử với người có HIV. Truyền thông sâu rộng cho ngư dân về việc thực hiện tình dục an toàn và tiêm chích an toàn.

- Lồng ghép truyền thông về phòng chống HIV/AIDS và giáo dục giới tính đối với các ngư dân ở tuổi vị thành niên.

- Xây dựng các thông điệp truyền thông cần phù hợp cho những người không biết đọc.

- Ngoài phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, ti vi) cần phát huy hiệu quả mạng lưới cộng tác viên và các tổ chức khác (y tế cơ sở, đoàn thanh niên, phụ nữ...) trong truyền thông trực tiếp.

Khuyến nghị 2:

- Có kế hoạch đầu tư để tăng độ bao phủ của chương trình khuyến khích sử dụng 100% BCS trong các lần QHTD.

- Đặt các hộp truyền thông ở những vị trí thuận tiện tại một số cảng cá lớn để ngư dân có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng.

- Tăng cường giới thiệu, quảng bá về các dịch vụ của chương trình phòng chống HIV/AIDS tại các địa phương như: TVXNTN, điều trị HIV/AIDS/STI, dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, khám và điều trị STI...

HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ
Khám bệnh và TVXN
Tiêm ngừa vac-xin
XN cận Lâm sàng>
XN thực phẩm>
XN Môi trường>
Xử lý nước uống
Bảo tàng Yersin
Hội trường>
Dịch vụ khác>

THÔNG BÁO
 
*Đăng ký đề cương đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2015
*Về việc đề xuất tham gia khoản tài trợ các chuyên gia giỏi nước ngoài
*Thông báo tham dự hội nghị toàn quốc thường niên Hội YTCC Việt Nam lần thứ 10.
*Tham gia chương trình học bổng nghiên cứu cho các nhà khoa học ở các nước đang phát triển 2014-2015
*Lấy ý kiến xác định điều kiện, tiêu chuẩn để áp dụng chính sách ưu đãi đối với cá nhân có kết quả, thành tích hoạt động KH và CN

QUẢNG CÁO
Số lượt truy cập
Trang tin điện tử Viện Pasteur Nha Trang
Địa chỉ: 8-10 Trần Phú - Tp. Nha Trang - T.Khánh Hoà
Trưởng ban biên tập: TS.Viên Quang Mai - Viện Trưởng
Bản quyền thuộc về Phòng CNTT
Viện Pasteur Nha Trang
Điện thoại: (058) 3 822 406
Email: info@ipn.org.vn
Công TrìnhThanh Niên
Đoàn Viện Pasteur Nha Trang